Tuyên Quang: Tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

05/01/2022
1.906

Chọn giọng đọc trước, sau đó bấm Đọc bài.

Thời gian qua, cùng với công tác quản lý, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên trên địa bàn tỉnh ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường cũng được chú trọng.

Minh họa: Tất Thắng

Công tác khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh được thực hiện thông qua hình thức quyết định, giấy phép khai thác khoáng sản. Các mỏ được cấp phép khai thác đều đảm bảo theo quy định của pháp luật về khoáng sản, đất đai, bảo vệ môi trường và các quy định của pháp luật có liên quan đến khai thác khoáng sản. Tất cả các mỏ khoáng sản chỉ được cấp phép khai thác khi đã thuộc quy hoạch khoáng sản của Trung ương, của tỉnh. Các loại khoáng sản theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội được cấp phép theo giai đoạn, theo vùng; xác định cụ thể diện tích khai thác và công suất khai thác đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng.

Quản lý, sử dụng đất đai, trong đó có quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh  từng bước được thực hiện có hiệu quả. Đất nông nghiệp có xu hướng giảm nhưng năng suất, giá trị sản lượng của các loại cây trồng tăng lên. Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp, nông thôn phù hợp với nền kinh tế hàng hóa, xây dựng nông thôn mới, diện tích đất đã đưa vào sử dụng đạt trên 99% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất được thực hiện theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, đảm bảo nguyên tắc hạn chế sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng tự nhiên vào mục đích phi nông nghiệp. Đến năm 2020, tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 542.991,5 ha, chiếm 92,54% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó: Đất trồng lúa 28.167,8 ha; đất trồng cây hàng năm khác 25.499,1 ha; đất trồng cây lâu năm 44.762,6 ha; đất rừng sản xuất 273.500,7 ha; đất rừng phòng hộ 120.799,4 ha; đất rừng đặc dụng 46.499,8; đất nuôi trồng thủy sản 3.553,9 ha; đất nông nghiệp khác là 208,3 ha. Các dự án, công trình sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đều được thực hiện sau khi có văn bản cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Thủ tướng Chính phủ và được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua theo quy định.

Thực hiện các dự án về điều tra, đánh giá, phân hạng đất đai để quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung (như: vùng trồng cam Hàm Yên, vùng chè huyện Yên Sơn, vùng sản xuất lương thực trên địa bàn huyện, thành phố...). Chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đến nay toàn tỉnh đã có trên 630 trang trại được cấp Giấy chứng nhận trang trại với diện tích 2.416,43 ha (bình quân 4,29 ha/trang trại).

Quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên nước được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Tuyên Quang. Công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt cơ bản đáp ứng yêu cầu, không để xảy ra tình trạng rác thải không được thu gom, gây bức xúc trong Nhân dân. Tỉnh đã đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Nhữ Khê, huyện Yên Sơn. Tất cả các dự án phát triển đô thị, đầu tư cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ trong và ngoài khu, cụm công nghiệp trước khi xây dựng đều được thẩm định, đánh giá tác động môi trường và yêu cầu xử lý chất thải đảm bảo đúng các quy chuẩn môi trường. Đến nay, tỉnh đã ban hành hướng dẫn thực hiện tiêu chí môi trường để người dân triển khai thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu.

Với những cách làm đồng bộ, đến năm 2020: Tỷ lệ sử dụng nước sạch của dân cư thành thị đạt 97,5%; tỷ lệ dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95%; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt đô thị đảm bảo tiêu chuẩn quy chuẩn đạt 91%; tỷ lệ khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn đạt 33%; tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%; tỷ lệ chất thải rắn thông thường được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường đến đạt 95%; tỷ lệ chất thải nguy hại, chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%.

Từ thực tế, công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cho thấy: Để làm tốt công tác này cần tiếp tục nâng cao nhận thức, ý thức, vai trò trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên; tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.

Phan Thanh Bình