Một số kết quả về lĩnh vực nông nghiệp sau 13 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Tuyên Quang

18/08/2021
771

Chọn giọng đọc trước, sau đó bấm Đọc bài.

Sau 13 năm thực hiện Nghị quyết “Tam nông”- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Tuyên Quang đã đạt được nhiều kết quả nổi bật ở nhiều mặt, đặc biệt là về thực hiện tái cơ cấu, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại; phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Bộ mặt nông thôn khang trang hơn; đời sống nhân dân từng bước được nâng cao.

Hàm Yên mùa cam chín. Nguồn ảnh: baotuyenquang.com.vn

Tuyên Quang tập trung triển khai thực hiện 09 quy hoạch đã được phê duyệt; đồng thời kịp thời điều chỉnh đất lâm nghiệp sang trồng cây khác để phát triển kinh tế theo kế hoạch của địa phương và phục vụ cho công nghiệp, khu dân cư nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện các khâu đột phá phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp, thủy sản gắn với thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 4%/năm, sản lượng lương thực hằng năm trên 34 vạn tấn. Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng tập trung khai thác và phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, đi sâu phát triển mạnh các sản phẩm chủ lực, đặc sản của từng lĩnh vực:

Về trồng trọt: Các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn đã được hình thành và có sự chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với nhu cầu thị trường (Vùng cam có 8.653 ha, trong đó: Theo tiêu chuẩn VietGAP 687 ha và tiêu chuẩn hữu cơ 30 ha; vùng chè 8.468 ha, trong đó: Theo tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững 729 ha, tiêu chuẩn VietGAP 93 ha và tiêu chuẩn hữu cơ 24 ha; vùng lạc 4.568 ha; vùng bưởi 5.190 ha; vùng mía 2.900 ha).

Về chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi hàng hóa tập trung trang trại, gia trại đã hình thành theo từng vùng (duy trì tổng đàn trâu trên 92,9 nghìn con; đàn bò trên 36,5 nghìn con; đàn lợn trên 528,9 nghìn con; gia cầm trên 6.718 nghìn con), giá trị sản xuất chăn nuôi tăng bình quân 5,8%/năm, chiếm 40,8% tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản toàn ngành.

Về lâm nghiệp: Thực hiện cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC đạt 35.843 ha đứng đầu trong cả nước; diện tích rừng trồng kinh doanh gỗ lớn 69.862 ha; năng suất rừng trồng đạt bình quân 16m3/ha/năm; diện tích rừng trồng bằng giống chất lượng cao 4.600 ha; đầu tư xây dựng nhà nuôi cấy mô công suất 1,5 triệu cây giống lâm nghiệp; thu hút đầu tư 04 dự án chế biến gỗ, 01 dự án sản xuất giống cây lâm nghiệp.

Về thủy sản: Phát triển nuôi cá đặc sản hàng hóa bằng lồng trên sông, hồ thủy điện (như cá Chiên); có 10 doanh nghiệp, hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận nuôi trồng thủy sản tốt VietGAP. Đến nay, số lồng nuôi cá trên sông, hồ thủy điện tăng từ 353 lồng (2008) lên 2.225 lồng (2020).

Ngành nghề nông thôn (chế biến nông, lâm, thủy sản…) và dịch vụ (vật tư nông nghiệp, vận tải…) có sự phát triển. Đến nay, toàn tỉnh có 15.316 cơ sở sản xuất kinh doanh, tăng 13.714 cơ sở so với năm 2008, tổng số lao động tại các cơ sở là 20.518 lao động.

Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đạt kết quả tích cực; năm 2020 toàn tỉnh có 79 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP; sản phẩm OCOP được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh quan tâm, lựa chọn; có 54 sản phẩm đã được chứng nhận nhãn hiệu… Cam sành Hàm Yên, chè Shan Tuyết Na Hang được cấp giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý. Một số sản phẩm nông sản tiêu biểu của Tuyên Quang như: Cam Hàm Yên là một trong 50 trái cây ngon nhất Việt Nam; chè hữu cơ Shan Tuyết Hồng Thái, chè đặc sản Vĩnh Tân, cá Lăng được bình chọn danh hiệu “Thương hiệu Vàng nông nghiệp Việt Nam”; chè Bát tiên Mỹ Bằng, mật ong Tuyên Quang được “Tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu”; bưởi Xuân Vân đứng TOP 10  Thương hiệu - Nhãn hiệu nổi tiếng…

Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng, đặc biệt về hạ tầng thủy lợi bảo đảm tỷ lệ tưới chắc hạt trên 84,5% diện tích gieo cấy; công tác phòng chống thiên tai được tích cực triển khai thực hiện với phương châm “bốn tại chỗ” và “ba sẵn sàng”…

Công tác quản lý về chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản đã có nhiều chuyển biến tích cực. Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành thường xuyên, định kỳ đã kịp thời chấn chỉnh, hạn chế hàng hóa không có nguồn gốc, kém chất lượng, quá hạn sử dụng.

Những kết quả trên tiếp tục khẳng định tính đúng đắn, phù hợp của Nghị quyết, là một chủ trương lớn, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn, là Nghị quyết mà cả Đảng và Nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và cùng chăm lo để phát triển kinh tế - xã hội, bảm đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân trên địa bàn nông thôn.

Có được những kết quả to lớn trên là sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Tuyên Quang. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành 10 văn bản (06 Nghị quyết, 01 Chỉ thị và 03 Chương trình hành động); Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành 26 Nghị quyết; Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 114 văn bản (79 Quyết định, 04 Chỉ thị và 31 kế hoạch trung hạn, dài hạn). Điều đó cho thấy sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, chính quyền Tuyên Quang trong triển khai, thực hiện, đưa Nghị quyết “Tam nông” thật sự đi vào đời sống.

Trong thời gian tới, để tiếp tục tái cơ cấu, phát triển nông nghiệp toàn diện, theo hướng hiện đại, bền vững, Tuyên Quang cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, thực hiện hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản hàng hóa, tập trung vào các sản phẩm chủ lực, đặc sản theo chuỗi liên kết bảo đảm chất lượng, giá trị gia tăng cao gắn với xây dựng nông thôn mới; chú trọng phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, phất triển vùng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, gắn với công nghiệp chế biến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm, kết với thị trường tiêu thụ; đồng thời giải quyết xử lý chất thải trong quá trình sản xuất để bảo vệ môi trường sống của người dân nông thôn.

Thứ hai, đẩy mạnh thực hiện mô hình tăng trưởng nông nghiệp đa chức năng, an toàn thực phẩm, thân thiện với môi trường theo tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến, hiện đại, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế trong lĩnh vực nông nghiệp để xây dựng, phát triể vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực của tỉnh và những sản phẩm đặc sản có giá trị cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường; nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sức cạnh tranh gắn với thực hiện hiệu quả Chương trình “mỗi xã một sản phẩm” nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường. Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế lâm nghiệp nhằm tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2025 trở thành tỉnh điển hình về phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển du lịch sinh thái. Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới phù hợp điều kiện thực tế của tỉnh.

Thứ ba, tăng cường năng lực cho hệ thống quản lý chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng. Huy động xã hội hóa các nguồn lực, thúc đẩy hợp tác công tư trong sản xuất nông nghiệp; phát triển chuỗi giá trị ngành hàng theo hình thức: Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ cung ứng các dịch vụ công, các doanh nghiệp tổ chức sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và gia tăng giá trị sản phẩm.

Có thể thấy sau hơn 1 thập kỷ thực hiện, Nghị quyết 26-NQ/TW như một “luồng gió mới” được thổi vào những địa phương nghèo khó, vùng sâu, vùng xa trên cả nước nói chung và Tuyên Quang nói riêng. Với những chính sách kích cầu hết sức thiết thực, phù hợp đã thay đổi bức tranh về phát triển kinh tế, thay đổi đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn. Trong bối cảnh hiện nay, nông nghiệp Tuyên Quang cần tiếp tục được quan tâm, huy động có hiệu quả các nguồn lực, phát huy cao nhất nội lực, tiềm năng, thế mạnh, vươn mình đổi mới, phát triển để hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế kinh tế…. Nhận rõ tầm quan trọng của nông nghiệp đối với sự phát triển của tỉnh, Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ tỉnh đã xác định một trong ba khâu đột phá trong thời gian tới là: “Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa, tập trung vào các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc sản bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, giá trị gia tăng cao gắn với xây dựng nông thôn mới”[1], thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với nước ta, nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [2].

 

[1] Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025, tr.173.

[2] HCMTT, NXB CTQG, H.2011, t.4, tr.246

Nguyễn Thanh Thủy