Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

15/12/2021
944

Chọn giọng đọc trước, sau đó bấm Đọc bài.

Trong những năm qua để tiếp tục phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch, cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi gia nhập thị trường, giải quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình sản xuất kinh doanh cho khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã.

Minh họa: Tất Thắng

Giai đoạn 2002-2012: Tỉnh ủy đã ban hành 01 Nghị quyết; Hội đồng nhân dân tính ban hành 07 Nghị quyết; Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 26 Quyết định để triển khai thực hiện. Giai đoạn từ năm 2013 đến nay: Tỉnh ủy đã ban hành 02 Chương trình hành động, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 11 Nghị quyết liên quan đến hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã; Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 10 Quyết định, 05 kế hoạch để triển khai thực hiện.
Các hợp tác xã thực hiện phương thức hoạt động, sản xuất, kinh doanh thay đổi phù hợp với cơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu của các thành viên hợp tác xã. Một số hợp tác xã đã đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, không ngừng đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Chất lượng hoạt động của các dịch vụ được nâng lên, nhiều hợp tác xã thành lập mới đã chủ động quan tâm thị  trường đầu tư trước khi tổ chức sản xuất sản phẩm. Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi từng bước tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng cao. Nhìn chung, các hợp tác xã duy trì phát triển ổn định, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho thành viên và hộ gia đình tham gia hợp tác xã, góp phần huy động nội lực, khai thác tiềm năng tài nguyên, sức lao động tại địa phương; tạo ra sản phẩm đa dạng, phong phú cho xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới. Số hợp tác xã xếp loại Tốt, Khá từng bước được tăng lên. Số hợp tác xã kinh doanh có lãi tăng, hoạt động của các hợp tác xã chuyển dịch theo hướng gắn với tổ chức sản xuất hàng hóa, hiện nay có 147 hợp tác xã (chiếm 43,75% tổng số hợp tác xã nông nghiệp) có doanh thu từ việc thực hiện dịch vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông sản. Nhiều hợp tác xã sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, liên kết để tiêu thụ sản phẩm cho thành viên, số sản phẩm nông sản của các hợp tác xã được đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tăng lên rõ rệt.
Đến nay, toàn tỉnh có 49 hợp tác xã, với 62 sản phẩm đăng ký nhãn hiệu, trong đó có 30 sản phẩm đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận, 33 sản phẩm đã cấp quyết định chấp nhận đơn hợp lệ. Một số hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản thực hiện hợp tác liên kết, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng công nghệ cao; trên toàn tỉnh có 53 hợp tác xã (chiếm 16,07% tổng số hợp tác xã nông nghiệp) thực hiện hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ 20 sản phẩm nông sản gồm: Cam, Chè, mía, Lạc, lúa, Rau, Dược liệu, Bưởi, Gấc, Sachi, Chanh, hoa Nhài, Trâu, Bò, Lợn, Dê, Gà, Vịt, Ca, Gỗ rừng trồng, góp phần đưa tỷ lệ giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tiêu thụ qua liên kết. Toàn tỉnh hiện có 17 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, trong đó 100% là ứng dụng kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, bảo quản nông sản .
Các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã của Trung ương, của tỉnh đã có tác động tích cực, kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh phát triển đa dạng hơn, bước đầu đã đạt hiệu quả. Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được củng cố, đổi mới phương thức hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã. Hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp đã tham gia chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tổ chức sản xuất nông sản hàng hóa và tổ chức các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống, giúp cho kinh tế hộ xã viên phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với tiêu thụ sản phẩm, góp phần thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo; tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các thành viên hợp tác xã và cộng đồng dân cư trên địa bàn, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, thương mại, vận tải được củng cố, đổi mới phương thức hoạt động, mở rộng ngành nghề để phát triển sản xuất kinh doang, dịch vụ.
Bên cạnh những kết quả đạt được còn một số hạn chế: Chưa thường xuyên phối hợp trong công tác quản lý, theo dõi, xử lý tồn tại, khó khăn, vướng mắc của hợp tác xã; nhận thức, trình độ, năng lực của một số cán bộ quản lý hợp tác xã còn nhiều hạn chế, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, ban quản lý, điều hành hợp tác xã chưa nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực điều hành hợp tác xã nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của hợp tác xã trong điều kiện kinh tế thị trường. Một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ còn hạn chế như: Chính sách xúc tiến thương mại, chính sách ưu đãi tín dụng, hỗ trợ chế biến sản phẩm; chưa bố trí được nguồn vốn riêng hỗ trợ cho kinh tế tập thể phát triển; Một số cơ chế chính sách ban hành, khi triển khai ở khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã còn khó tiếp cận và được thụ hưởng như: Về tiếp cận vốn, tín dụng; chính sách hỗ trợ về khoa học và công nghệ; chính sách hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trường. 
Để tiếp tục thực hiện tốt và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế tập thể cần: Làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cho cán bộ và Nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế, xã hội; tăng cường vai trò của cấp ủy, chính quyền địa phương; sự phối hợp của các ngành, đoàn thể trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã; đổi mới, đa dạng hình thức tuyên truyền, tăng cường phổ biến những cách làm hay, mô hình hiệu quả, đi vào chiều sâu, có sức lan tỏa rộng. Liên minh Hợp tác xã tỉnh nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm trong phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên; tăng cường tư vấn, định hướng và làm đầu mối liên kết Hợp tác xã trong sản xuất, kinh doanh. Hợp tác xã tiếp tục đổi mới, đa dạng loại hình hoạt động, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bảo vệ lợi ích của thành viên trong hợp tác xã, công khai, minh bạch trong công tác quản lý; nâng cao năng lực quản trị, điều hành của hội đồng quản trị, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; tích cực thực hiện liên doanh, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa các Hợp tác xã, đẩy mạnh áp dụng khoa học, công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn được công nhận trong sản xuất để tạo ra sản phẩm có chất lượng đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh đồng thời phải đặt chữ Tín lên hàng đầu để dần khẳng định thương hiệu. Gắn kết đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm”, Chương trình Khuyến công và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Triển khai thực hiện quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các vùng sản xuất chuyên canh; phát triển các làng nghề truyền thống nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác xã, tổ hợp tác phát triển. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hợp tác xã; khuyến khích thành lập, phát triển các hợp tác xã kiểu mới, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, tham gia các liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm để nâng cao hiệu quả hoạt động, gắn với phát huy vai trò làm chủ, lợi ích của các thành viên trong hợp tác xã. Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, thành viên hợp tác xã, kết hợp học tập các mô hình quản trị hợp tác xã có hiệu quả; tiếp tục thực hiện tốt chính sách đào tạo và thu hút cán bộ có trình độ về làm việc tại các hợp tác xã.

Lê Thị Thu Nga